Công an Nghệ An truy tìm kiều nữ lập công ty 'ma' lừa đảo chiếm đoạt hàng chục tỷ 07/06/2021 15:46:24 Bằng chiêu trò lập nên công ty 'ma' rồi kêu gọi nhiều người góp vốn để kinh doanh xăng dầu nhưng thực tế lợi nhuận không phát sinh, nữ giám đốc đã ôm tiền bỏ trốn. Từ tháng 12/2020, Công ty CP Đầu tư bất động sản Thời Đại (Thời Đại Land, trụ sở tại TP.Thủ Đức, TP.HCM) đã tiến hành ký thỏa thuận đặt cọc với nhiều khách hàng. Nhiều khách hàng đã đóng hàng tỷ đồng cho Thời Đại Land với mục đích mua đất nền tại dự án Lợi dụng lòng tham, lòng tin của không ít người, thời gian qua tội phạm công nghệ cao đã "giăng bẫy" lừa đảo chiếm đoạt hơn 16,3 tỉ đồng của nhiều người dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Tags: lực lượng cảnh sát , cảnh sát hình sự , Cảnh sát hình sự Công an , không gian mạng , lợi dụng lòng tin Sáng 23.5, TAND tỉnh Gia Lai tiếp tục phiên xử sơ thẩm vụ án Trần Thị Quý Phượng, Giám đốc Công ty CP xây dựng thương mại Bình An (TP.Pleiku) can tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và trốn thuế (Thanh Niên đã thông tin). Thay đổi tội danh của nguyên Bí thư Huyện ủy Hồng Ngự 00:20 24/05/2014 0 Trước tình trạng nhiều người dùng tại Việt Nam đang bị tấn công bởi các tin nhắn giả mạo có tên thương hiệu (Brandname) của các ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản, đại diện Cục An toàn thông tin - Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) nhận định: Các tin nhắn giả mạo Fq1M9. Anh Xuân có thắc mắc Dạ thưa luật sư, em có quen bạn trai. Sau thời gian tìm hiểu em có cho người đó vay mượn mỗi lần một ít đến nay tổng cộng số tiền là đồng và mẹ người đó có mượn riêng trong khi em với người đó quen nhau là đồng. Số tiền của anh ta và mẹ anh ta mượn của em tổng cộng là đồng – không viết giấy tờ và không hợp đồng, nhưng lúc trao tiền có nhiều người chứng kiến gồm bạn bè em , bạn bè, anh chị và mẹ của anh ta Sau thời gian chia tay người đó có nhắn tin nói với em rằng mỗi tháng sẽ trả đến khi hết thì thôi. Đến nay anh ta trả được Hôm 09/04/2017 anh ta có nhắn tin cho e xin khất tháng sau sẽ trả 2 tháng vì không có tiền , nhưng em biết lúc đó anh ta đã sử dụng số tiền khoảng hơn đồng để mua quà cho người bạn gái hiện tại. Tuy nhiên, em vẫn đồng ý. Ngày 25/04/2017 em có nhắn tin nhắc tuần sau đến hạn trả tiền nhưng anh ta giả vờ không biết em là ai và có ý không muốn trả. Anh ta hỏi em ” Ví dụ k trả r sao ? ” Luật sư cho em hỏi, em có thể khởi kiện anh ta không?? Nếu khởi kiện được thì anh ta sẽ bị xử phạt như thế nào?? Em xin chân thành cảm ơn. Luật sư giải đáp Với trường hợp của bạn tôi có một số ý kiến như sau Việc bạn cho người yêu bạn và mẹ người yêu bạn vay tiền là việc thiết lập một giao dịch dân sự vay tài sản. Theo quy định tại điều 463- BLDS 2015 về hợp đồng vay tài sản “Điều 463. Hợp đồng vay tài sản Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.” Trong trường hợp bạn kiện anh ta ra trước pháp luật đòi trả nợ thì bạn phải cung cấp được các bằng chứng, chứng cứ chứng mình đến tòa về việc anh ta đã vay tiền bạn. Căn cứ theo quy định tại điều 6- BLTTDS 2015 về cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự. “Điều 6. Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự 1. Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự. 2. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định.” Chỉ khi có các chứng cứ chứng minh có giao dịch dân sự vay mượn này tồn tại thì tòa án mới có cơ sở để thụ lí giải quyết vụ việc. Trong trường hợp của bạn, bạn không có giấy vay nợ nhưng bạn vẫn có thể khởi kiện đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi anh ta đang cư trú để đòi lại tiền. Bạn có thể xuất trình trước tòa bản ghi âm cuộc giao dịch vay tiền, tin nhắn anh ta vay tiền bạn, người làm chứng xác nhận việc bạn cho anh ta vay mượn tiền. Chỉ cần xác minh được các bằng chứng trên là chính xác thì tòa sẽ giải quyết yêu cầu cho bạn. Theo điều 351 Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ “1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ. 2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. 3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.” Theo điều 357- BLDS 2015 về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền “1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này” Theo điều 1 của quyết định về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là “Điều 1. Quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm.” Như vậy, anh ta sẽ phải trả cho bạn đầy đủ số tiền đã vay bạn thêm vào đó là phần tiền lãi của số tiền anh ta đã trả chậm. theo điều 429- BLDS 2015 “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.” – Hồ sơ khởi kiện gồm + Đơn khởi kiện theo mẫu + Giấy tờ vay nợ và các tài liệu khác , các chứng cứ nếu có Trên đây là một số ý kiến của tôi bạn có thể tham khảo. ✅ Dịch vụ thành lập công ty ⭕ ACC cung cấp dịch vụ thành lập công ty/ thành lập doanh nghiệp trọn vẹn chuyên nghiệp đến quý khách hàng toàn quốc ✅ Đăng ký giấy phép kinh doanh ⭐ Thủ tục bắt buộc phải thực hiện để cá nhân, tổ chức được phép tiến hành hoạt động kinh doanh của mình ✅ Dịch vụ ly hôn ⭕ Với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn ly hôn, chúng tôi tin tưởng rằng có thể hỗ trợ và giúp đỡ bạn ✅ Dịch vụ kế toán ⭐ Với trình độ chuyên môn rất cao về kế toán và thuế sẽ đảm bảo thực hiện báo cáo đúng quy định pháp luật ✅ Dịch vụ kiểm toán ⭕ Đảm bảo cung cấp chất lượng dịch vụ tốt và đưa ra những giải pháp cho doanh nghiệp để tối ưu hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác ✅ Dịch vụ làm hộ chiếu ⭕ Giúp bạn rút ngắn thời gian nhận hộ chiếu, hỗ trợ khách hàng các dịch vụ liên quan và cam kết bảo mật thông tin Giữa hai tội này có những điểm khác nhau, bảng phân tích dưới đây sẽ giúp mọi người phân biệt hai tội nàyTỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢNĐiều 175 BLHS 2015 sửa đổi năm 2017TỘI THAM Ô TÀI SẢNĐiều 353 BLHS 2015 sửa đổi năm 2017CHỦ THỂNgười đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu có chức vụ, quyền hạn, đồng thời phải là người có trách nhiệm quản lý đối với tài sản chiếm TƯỢNG TÁC ĐỘNGTài sản bị chiếm đoạt do người khác quản lí, đó có thể là tài sản của Nhà sản bị chiếm đoạt do chính người phạm tội quản HIỆU PHẠM TỘILợi dụng lòng tin của người khác để vay, mượn, thuê tài sản hoặc uy hiếp tinh thần chủ tài sản buộc họ giao tài sản. Sau đó, sử dụng thủ đoạn gian dối, bỏ trốn chiếm đoạt tài sản vào mục đích bất hợp dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt, đánh tráo TS do mình quản lí thành TS cá nhân, làm mất đi 1 khối lượng TS nhất định của NN hoặc cơ quan, tổ chức mà người đó quản PHẠT- Khung hình phạt cơ bản phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 Mức phạt tối đa phạt tù từ 12 năm đến 20 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10triệu đồng đến 100triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài Khung hình phạt cơ bản phạt tù từ 02 năm đến 07 năm- Mức phạt tối đa phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình- Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài số bản án xét xử về hai tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; tội Tham ô tài sản mời các bạn tham khảo1. Bản án về tội tham ô tài sản số 340/2021/HSPT2. Bản án về tội tham ô tài sản số 06/2020/HSST3. Bản án về tội tham ô tài sản số 413/2021/HS-PT4. Bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 53/2021/HSPT5. Bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số 51/2021/HSST6. Bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số 74/2021/HSSTĐây là nội dung tóm tắt, thông báo văn bản mới dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc vui lòng gửi về Email info Lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản đang là vấn đề vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Vậy hiểu thể nào cho đúng về làm dụng chiếm đoạt tài sản? Phân biệt chiếm đoạt tài sản và lạm dụng chiếm đoạt tài sản? Lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản xảy ra khi thủ phạm lợi dụng lòng tin của nạn nhân để chiếm đoạt tài sản. Hành vi này được thể hiện về mặt hình sự là tội phạm, người thực hiện hành vi này phải chịu trách nhiệm hình sự nếu có các điều kiện khác về đối tượng, tội danh…. Quy định pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Điều 175 Chương XVII Bộ luật hình sự số 100/2015 / QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26 tháng 11 năm 2017 sau đây Bộ luật hình sự. Bộ luật viết tắt ghi tên tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau “Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Một người thực hiện một trong các hành vi sau đây là chiếm đoạt tài sản của người khác. Người có giá trị từ đồng đến dưới đồng hoặc dưới đồng mà đã bị xử phạt vi phạm hành chính về tội chiếm đoạt tài sản hoặc bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản. Bộ luật này, hoặc đối với bất kỳ tội nào nêu tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này chưa bị trấn áp nhưng vẫn phạm tội, hoặc tài sản là sinh kế chính của nạn nhân và người thân thích của họ, bị phạt tù đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm Mượn, thuê tài sản của người khác hoặc lấy tài sản của người khác theo hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để có được tài sản đó hoặc không trả lại tài sản không kịp thời dù có một số điều kiện nhất định. Sự kiện, năng lực, tuy nhiên, cố tình không trả hết; Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác theo hình thức hợp đồng và sử dụng tài sản đó vào mục đích trái pháp luật dẫn đến không trả lại được tài sản. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm i Có tổ chức; ii Có tính chất chuyên nghiệp; iii Chiếm đoạt tài sản trị giá từ đồng đến dưới đồng; iv Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; v Dùng thủ đoạn xảo quyệt; vi Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; vii Tái phạm nguy hiểm. Có thể bạn quan tâm tái phạm và tái phạm nguy hiểm Nếu phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá đồng đến dưới đồng thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm. Nếu phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá đồng trở lên thì bị phạt tù. từ 12 đến 20 năm. Người vi phạm cũng có thể bị phạt 000 đồng đến đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm làm nghề, hoạt động nhất định hoặc bị tịch thu toàn bộ hoặc một phần tài sản từ 01 năm đến 05 năm. Chào luật sư em muốn được luật sư tư vấn giải quyết về chuyện của em như sau Cách đây không lâu em có cho anh B mượn chiếc xe airblade Thái anh B nói chỉ mượn trong vong 24h Khi đến giờ giao hẹn trả xe nhưng anh B vẫn không mang xe hoàn trả ... và sau 2 ngày em có tìm đến nhà anh B thì em được biết chiếc xe đã bị cắm .. gia đình anh B đã hứa sẽ hoàn trả chiếc xe trong vòng 1 tuần ... Nhưng khi đến ngày hẹn gia đình em vẫn không nhận được chiếc xe như gia đình anh B đã hứa mà khi em cho anh B mượn chiếc xe airblade thai. Trong cốp xe có giấy tờ xe mang tên chính chủ em và cmnn điện thoại , tiền mặt 6trieu của anh trai ruột em mặc dù quá hạn nhiều ngày nhưng gia đình anh B vẫn không hoàn trả chiếc xe cho gia đình em và gia đình em đã viết đơn trình báo lên công an xã công an xã không giải quyết được và đã hướng cho ra đình làm đơn trình báo lên huyện khi làm đơn trình báo lên công an huyện. Em được công an huyện mời lên lấy lời khai 3 lần ..sự việc khá rõ ràng nên gia đình khá yên tâm. Nhưng sau đó sự việc càng ngày càng đưa gia đinh em vào bế tắc .. công an huyện làm ngơ .. qua 3 tháng vẫn không hề có hồi âm của công an. Thời gian gần đây gia đình em trực tiếp lên công an huyện để hỏi thì công an lại hướng cho gia đình em viết lại lá đơn trình báo về nội dung khác nhưng gia đình em không đồng ý. Đến bây giờ gia đình em muốn viết đơn trình báo lên công an thành phó thì phải làm như thế nào? 1. Theo quy định tại Điều 140 BLHS quy định "Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm a Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; b Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản." Điều 142 BLHS quy định "Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm". Như vậy, theo thông tin bạn nêu thì người đó mượn xe của bạn sau đó mang đi cầm cố, không trả lại tài sản cho bạn. Hành vi đó là sử dụng trái phép tài sản. Nếu giá trị tài sản từ 50 triệu đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt hành chính... thì người đó sẽ bị khởi tố về tội sử dụng trái phép tài sản theo quy định tại Điều 142 BLHS. Nếu người đó có hành vi gian dối, bỏ trốn hoặc sử dụng tài sản và mục đích bất hợp pháp dẫn đến mất khả năng trả lại tài sản thì mới bị xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại ĐIều 142 BLHS. Nếu người đó chỉ mang xe của bạn đi cầm cố sử dụng tài sản sai mục đích nhưng không đủ điều kiện xử lý theo Điều 142 BLHS thì vụ việc chỉ là quan hệ dân sự, bạn có thể khởi kiện tới tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự để yêu cầu hủy bỏ hợp đồng cầm cố tài sản và đòi lại chiếc xe đó. 2. Cầm cố tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ là một trong các biện pháp đảm bảo để thực hiện nghĩa vụ dân sự. Pháp luật cho phép công dân có thể thực hiện giao dịch cầm cố tài sản theo quy định pháp luật. Nếu mang tài sản của người khác đi cầm cố mà không được chủ sở hữu đồng ý thì giao dịch đó bị vô hiệu theo quy định pháp luật chứ không phải là tội phạm hình sự. Hành vi đó vì vụ lợi thì sẹ bị xử lý hành chính, nếu giá trị tài sản từ 50 triệu đồng trở lên hoặc thuộc trường hợp khác quy định tại Điều 142 BLHS thì mới có thể xử lý về tội này chứ không thể xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - trừ khi người đó bỏ trốn hoặc che giấu việc cầm cố, phủ nhận việc đã nhận tài sản để chiếm đoạt tài sản đó gian dối. Vì vậy, vụ việc của bạn chưa thấy dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại ĐIều 140 BLHS không bỏ trốn, không gian dối, không sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp mà chỉ có dấu hiệu của hành vi sử dụng trái phép tài sản. 3. Pháp luật quy định thời hạn kiểm tra xác minh nguồn tin về tội phạm, giải quyết đơn tố giác tội phạm là 20 ngày, nếu vụ việc phức tạp thì có thể kéo hơn nhưng không quá 2 tháng Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, bạn có thể có đơn thư kiến nghị cơ quan điều tra sớm có kết quả xác minh và thông báo cho bạn. Nếu vụ việc không thỏa mãn dấu hiệu cấu thành các tội theo quy định tại Điều 139 BLHS dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản; Điều 140 BLHS, Điều 142 BLHS thì vụ việc chỉ là quan hệ dân sự và bạn có thể khởi kiện để đòi tài sản theo thủ tục tố tụng dân sự. Lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản bị xử phạt như thế nào? Ngày đăng 27/04/2017 Dạ thưa luật sư, em có quen bạn trai. Sau thời gian tìm hiểu em có cho người đó vay mượn mỗi lần một ít đến nay tổng cộng số tiền là đồng và mẹ người đó có mượn riêng trong khi em với người đó quen nhau là đồng. Số tiền của anh ta và mẹ anh ta mượn của em tổng cộng là đồng - không viết giấy tờ và không hợp đồng, nhưng lúc trao tiền có nhiều người chứng kiến gồm bạn bè em , bạn bè, anh chị và mẹ của anh ta Sau thời gian chia tay người đó có nhắn tin nói với em rằng mỗi tháng sẽ trả đến khi hết thì thôi. Đến nay anh ta trả được Hôm 09/04/2017 anh ta có nhắn tin cho e xin khất tháng sau sẽ trả 2 tháng vì không có tiền , nhưng em biết lúc đó anh ta đã sử dụng số tiền khoảng hơn đồng để mua quà cho người bạn gái hiện tại. Tuy nhiên, em vẫn đồng ý. Ngày 25/04/2017 em có nhắn tin nhắc tuần sau đến hạn trả tiền nhưng anh ta giả vờ không biết em là ai và có ý không muốn trả. Anh ta hỏi em " Ví dụ k trả r sao ? " Luật sư cho em hỏi, em có thể khởi kiện anh ta không?? Nếu khởi kiện được thì anh ta sẽ bị xử phạt như thế nào?? Em xin chân thành cảm ơn. 9652 Cảm ơn Phản hồi Chủ đề đang được đánh giá Click vào bảng để xem hiển thị đầy đủ thông tin Bạn vui lòng đăng nhập hoặc Đăng ký tại đây để tham gia thảo luận

lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản